di tích lịch sử trên địa bàn Quận

Chùa Thanh Nhàn
Ngày đăng 08/08/2016 | 14:14

Nằm về phía nam của kinh thành Thăng Long xưa, gần với khu vực Ô Cầu Dền, có một ngôi chùa gọi tên nôm theo địa danh là chùa Thanh Nhàn, còn tên chữ là “Linh Sơn Tự”. Theo tấm bia trụ tại chùa – có niên hiệu Vĩnh Thịnh năm Tân Sửu (1721) – thì ngôi chùa này ít nhất cũng đã được xây dựng từ thời Lê, trên mảnh đất của thôn Thanh Nhàn, phường Yên Xá (xứ ông Mạc) tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương, nay là phường Thanh Nhàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

          Chùa Thanh Nhàn có qui mô lớn. Tam quan cấu trúc được thể hiện theo kiểu cột trụ, có một cổng chính. Phía trên, tạo kiểu hai tầng tám, lợp loại ngói giả ống, làm bằng vôi vữa. Các góc mái được đắp uốn cong, tạo vẻ thanh thoát, nhẹ nhàng. Cấu trúc hai cột trụ đồng của tam quan trên: là tứ phượng, tượng trưng cho bốn phương, dưới dạng lá lật mui thuyền, đến lồng đèn, thân trụ vuông, cá mặt được đắp khung để ghi câu đối.

          Khu kiến trúc thờ chính: từ tam quan qua một sân rộng lát gạch là tới chùa chính. Chùa chính tọa lạc trên vị trí cao nhất so với các công trình kiến trúc phụ trợ, và quay hướng nam nhìn ra khoảng san và ao sen của chùa. Chùa kết cấu hình chữ "đinh" (chuôi vồ), kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta. Bờ nóc và bờ dải đắp nhô cao, trên có trang trí thành dải các hình hoa thị, chính giữa bờ nóc đắp bức đại tự "Linh Sơn Tự". Bái đường năm gian, bộ khung mái làm bằng chất liệu gỗ lim với bộ vì kèo, được kết cấu giống nhau theo kiểu "vì kèo giá chiêng", hoành mái được phân theo lối "thượng tứ hạ ngũ". Mặt bằng theo lối bốn hàng chân cột, mười hai cột mỗi cột có chiều cao 4,5m, chu vi 0,9m. Có sáu cột hiện được xây bằng gạch, cột vuông, mỗi cạnh là 0,4m, trên thân cột tạo khung để viết câu đối. Nhà hậu cung được làm bốn gian kết nối với nhà tiền đường để tạo thành hình chuôi vồ, kết cấu kiểu giá chiêng. Hệ thống cột được bố trí theo kiểu hai hàng chân, có sáu cột gỗ lim, kích thước cao 4,5m, chu vi 0,9m, tạo cho phần không gian hậu cung trở nên thoáng rộng.

          Phần trang trí trong kiến trúc chùa chính nhẹ nhàng, các chủ đề và họa tiết chủ yếu mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn, như: thân trúc mai, hoa văn viện, được tập trung trên các phần cốn mê. Các họa tiết vân xoắn, hoa lá, được thể hiện trên các đầu xà, cốn chồng rường, chủ yếu là chạm nổi, có nét chạm chắc khỏe, phóng khoáng. Cùng với kiến trúc chùa chính, có nhà tổ, kiến trúc năm gian, kiểu tường hồi bít đốc, quay hướng đông, mái lợp ngói ta, cửa bức bàn ở ba gian giữa. Nơi đây thờ các pho tượng Tổ và ba pho tượng Hoa Nghiêm Tam Thánh. Nhà mẫu xây phía sau chùa chính, quay hướng Nam, cấu trúc nhà chữ "đinh", tường hồi bít đốc, gồm sáu bộ vì theo kiều vì kèo "chồng rường giá chiêng". Việc bài trí thờ trong điện mẫu là để thờ "công chúa Liễu Hạnh".

          Bên cạnh giá trị kiến trúc, chùa Thanh Nhàn còn bảo lưu được khối lượng di vật phong phú cả về số lượng và giá trị lịch sử nghệ thuật. Điển hình là các tấm bia đá cổ (9 tấm bia), bia sớm nhất có niên hiệu Vĩnh Thịnh năm Tân Sửu (1721) kiểu dáng như cây hương đá, vuông bốn cạnh, kích thước cao 1,6m, mỗi cạnh rộng 0,25m. Bia có niên đại muộn nhất, được dựng vào 20 tháng giêng năm Bảo Đại thứ 11 (1936). Những tư liệu về bia đá cổ này không chỉ giúp cho việc xác định về sự tồn tại của ngôi chùa, nhận diện rõ hơn về địa hình phía đông nam của kinh đô Thăng Long xưa, mà còn giúp các nhà nghiên cứu tìm hiểu thêm về cuộc sống xã hội, sự phân hóa hai tầng, chế độ ruộng đất, sinh hoạt tôn giáo ... của các triều đại quân chủ qua các thời. Hệ thống tượng Phật, tượng Mẫu, tượng Tổ gồm 61 pho lớn nhỏ (trong đó có hai pho được đúc bằng đồng). Những pho này được tạo tác công phu, chau chuốt. Đó là những tác phẩm điển hình của dòng nghệ thuật truyền thống và đương thời. Hai quả chuông đồng, một quả lớn có chiều cao 1,55m, đường kính miệng 0,65m, được đúc vào năm Tự Đức nguyên niên (1848). Các hiện vật khác hoành phi, câu đối ... là sản phẩm của thời Nguyễn, trên mỗi hiện vật đều mang một phong cách trang trí riêng biệt, có giá trị nghệ thuật nhất định. Các sưu tầm hiện vật này là những tài sản quý giá của di tích, đồng thời góp phần bổ sung và làm giầu thêm kho di sản văn hóa của Thủ đô và nước nhà.

         Thanh Nhàn là ngôi chùa ra đời để phục vụ tín ngưỡng phật giáo của người dân địa phương nói riêng và của người Việt nói chung. Cũng như nhiều ngôi chùa cổ của làng xã Việt Nam, bên cạnh việc thờ Phật, trong chùa còn có điện Mẫu, thờ bà chúa Liễu Hạnh – cũng được coi là một trong Tứ bất tử của dân gian Việt Nam. Điều đặc biệt: chùa Thanh Nhàn còn là cơ sở nuôi giấu cán bộ hoạt động bí mật, nơi in ấn tài liệu của Đảng những năm 1947 – 1949. Tất cả đã tạo nên ngôi chùa khá độc đáo trong kiến trúc nghệ thuật tôn giáo, lịch sử Việt Nam.

                                                                                                                                                  

                                                                                                     Nguồn : Các di tích lịch sử - văn hoá quận Hai Bà Trưng

                                                                                                                                         Xuất bản năm 2005